Bảo tồn nguồn gen

Phân lập, tuyển chọn, đánh giá, lưu giữ và bảo tồn nguồn gen vi sinh vật nông nghiệp.

Nghiên cứu phân bón

Nghiên cứu và phát triển công nghệ sản xuất phân bón/chế phẩm vi sinh vật.

Công nghệ vi sinh

Nghiên cứu công nghệ vi sinh trong xử lý phế thải, bảo vệ môi trường.

Áp dụng tiến bộ kỹ thuật

Nghiên cứu, ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật trong sản xuất và bảo quản sản phẩm nông nghiệp.

Kiểm nghiệm sinh vật

Kiểm nghiệm sinh vật, tìm hiểu cơ chế tương tác giữa sinh vật, cây trồng và môi trường sống.

Chuyển giao công nghệ

Nghiên cứu, phát triển và chuyển giao công nghệ sinh học nông nghiệp cho các địa phương nhằm nâng cao năng suất và chất lượng cây trồng.

Hiển thị các bài đăng có nhãn Tin tức. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Tin tức. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 15 tháng 9, 2014


Hoa đồng tiền 'mẫn cảm' với phân hóa học

Hoa đồng tiền là một trong những loài hoa cắt cành có giá trị kinh tế cao với nhiều màu sắc rực rỡ và hấp dẫn như đỏ, hồng, vàng, cam, trắng… Bông hoa có kích thước từ 5 – 15cm.


Hoa đồng tiền rất “mẫn cảm” với phân hóa học và không nên bón nhiều phân đạm.

Hoa có thể trồng bằng hạt, cây con hay giâm bằng tách cành. Trồng bằng hạt là cách tốt nhất, nhưng hạt cần gieo ngay vì chúng có thể mất khả năng nảy mầm nhanh chóng sau khi thu hạt và không giữ đúng dạng của giống. Trồng bằng cây con hoặc bằng bộ phận thân cây dễ dàng và bảo đảm giữ nguyên dạng của hoa. Nên chọn cây thành thục, khi trồng cần cắt phần thân phù hợp không bị biến dạng, không sâu bệnh, cắt bỏ hết lá phía dưới và trồng ngay.

Hoa đồng tiền ưa trồng ở đất thịt pha sét, độ mùn cao, không ứ đọng nước, độ thông thoáng cao, độ pH thích hợp từ 5,5 – 6,2. Chuẩn bị đất kỹ và dọn sạch cỏ dại trước khi trồng. Cây phát triển mạnh ở nơi trồng có ánh nắng mặt trời, đất đầy đủ dinh dưỡng và ẩm độ thích hợp.

Nhu cầu phân bón: Bón phân theo yêu cầu của cây và tình trạng đất đai. Các loại phân hữu cơ, vô cơ và vi lượng có ý nghĩa rất quan trọng, ảnh hưởng đến sự sinh trưởng và phát triển của cây, quyết định đến năng suất và phẩm chất của hoa đồng tiền. Hoa đồng tiền rất mẫn cảm với phân bón, đặt biệt là phân hoá học. Bởi thế khi bón phân hóa học cần chia nhỏ lượng phân để bón nhiều lần. Khi bón đủ phân màu sắc hoa sẽ đẹp, sắc nét và lâu tàn. Nhưng cần lưu ý nếu bón nhiều đạm sẽ làm cho cành hoa mềm yếu và mau hư hỏng. Nên bón cân đối N:P:K. Có thể tham khảo cách bón phân như sau:

Lượng phân cần bón cho 1.000m2 gồm: Phân chuồng khoảng 3 – 5 tấn (như phân heo, bò, phân dê, phân gà đã được ủ với Trichoderma hoai mục) + vôi 120 - 150kg + phân hữu cơ vi sinh 30kg + magiê sulphat 3 – 5kg + các loại phân hóa học (urê 12kg + lân 12kg + kali 12kg).

Bón lót toàn bộ phân chuồng, vôi, phân hữu cơ vi sinh và magiê sulphat. Lượng phân hóa học còn lại chia nhỏ nhiều lần bón thúc, định kỳ 15 – 20 ngày bón 1 lần, bằng cách hòa tan với nước và tưới cho cây.

Có thể bổ sung thêm dinh dưỡng cho hoa bằng cách phun thêm phân bón qua lá và vi lượng như Atonik, Miracle, Ba lá xanh… theo định kỳ 15 - 20 ngày một lần. Phun lúc chiều mát và tưới rửa lá vào sáng sớm hôm sau để hạn chế sự phát triển của nấm bệnh, tránh phun lên hoa. Bón vào đất nhưng không nên bón sát gốc hoặc chạm vào lá, không bón phân vào buổi trưa hoặc trời nắng gắt, bón xong tưới nước rửa phân cho phân tan hấp thụ trong đất để nuôi cây.

TS Nguyễn Công Thành (Dân Việt)



Hải Phòng: Bỏ ngỏ thị trường rau hữu cơ

Vấn đề tồn dư thuốc BVTV và hóa chất trong rau đang là mối lo chung của toàn xã hội. Có một cách giải “bài toán” này là SX rau hữu cơ.


Mô hình SX rau hữu cơ tại Hải Phòng

Theo số liệu điều tra của ngành nông nghiệp TP Hải Phòng, số người có điều kiện và nhu cầu sử dụng rau hữu cơ tại thành phố rất lớn, khoảng 90.000 người, tương đương lượng rau hữu cơ tiêu thụ mỗi ngày từ 27-35 tấn. Song thị trường này ở đất Cảng vẫn đang bỏ ngỏ.

Theo TS Trần Nam Trung, Phó Viện trưởng Viện Đào tạo và Nghiên cứu phát triển sinh - nông (ĐH Hải Phòng), phát triển nông nghiệp hữu cơ không chỉ tạo sản phẩm chất lượng an toàn mà còn đảm bảo cân bằng sinh thái, không gây ô nhiễm môi trường và các hệ lụy do sử dụng nhiều hóa chất và thuốc bảo vệ thực vật.

Sản phẩm hữu cơ xuất khẩu với giá cao đồng thời cung cấp cho thị trường nội địa là cơ hội lớn cho nông nghiệp Hải Phòng.

Trong nhiều năm qua, SX rau hữu cơ tại Hải Phòng vẫn chỉ mang tính thử nghiệm. Ngành nông nghiệp chưa có quyết định SX cụ thể cho một đối tượng cây trồng hữu cơ nào. Sản phẩm rau hữu cơ tiêu thụ tại Hải Phòng chủ yếu từ các tỉnh, thành khác như Hải Dương, Hưng Yên, Hà Nội, Lâm Đồng…

Số lượng cung cấp cũng rất nhỏ, chủ yếu tiêu thụ trong các siêu thị với chủng loại chưa đa dạng, chưa đáp ứng được yêu cầu của người tiêu dùng thành phố.

Hướng tới một nền nông nghiệp đô thị sinh thái, thời gian gần đây, Hải Phòng đã triển khai mô hình SX rau hữu cơ tại các huyện An Dương, An Lão và Tiên Lãng. Mô hình do Trung tâm KN-KN Hải Phòng tổ chức thực hiện, đã thu hút 120 hộ tham gia với tổng diện tích 12 ha trồng rau cải ngọt và dưa chuột.

Đây là hai loại rau chủ lực ở Hải Phòng, SX gần như quanh năm. Song song với mô hình rau hữu cơ, nhóm thực hiện còn triển khai một mô hình đối chứng, SX theo phương thức thông thường, có sử dụng phân bón hóa học.

Với cải ngọt, năng suất thu được từ 19-21 tấn/ha trong vụ đông và 16-17,6 tấn/ha vụ xuân hè. Hương vị và độ ngọt đều vượt trội so với rau trồng theo phương thức thông thường. Đặc biệt là rất ít sâu bệnh. Tuy nhiên, rau cải ngọt bón phân hữu cơ và thuốc bảo vệ thực vật sinh học cho năng suất thấp hơn một chút so với rau trồng theo phương pháp thông thường.

Với dưa chuột, do không sử dụng phân bón hóa học nên ban đầu lá không xanh đậm, kích thước lá không lớn bằng, nhưng vào giai đoạn cuối, dưa chuột giữ được bộ lá xanh bền, dây không bị rạc sớm, nên thời gian thu hoạch ở cả hai thời vụ đều dài hơn đối chứng.

Số hoa đực tương đối nhiều, tạo điều kiện thuận lợi cho thụ phấn, tỷ lệ đậu quả cao hơn. Phương pháp hữu cơ góp phần tạo điều kiện thuận lợi cho cây ra hoa kết quả tốt, làm giảm lượng hoa rụng, tăng tỷ lệ đậu quả, năng suất cao hơn.

Đặc biệt, dưa chuột hữu cơ có độ dày thịt quả cao (từ 18-19 mm), thể hiện khả năng tích lũy dinh dưỡng tốt hơn, quả bảo quản được lâu hơn. Quả lại ít hạt nên được người tiêu dùng ưa chuộng. Kết quả phân tích chất lượng cho thấy hàm lượng nitrate, đường tổng số, vitamin C… đều cao hơn hẳn so với đối chứng.

Mật độ sâu bệnh trên dưa hữu cơ cũng ít hơn. Ưu điểm rõ rệt nhất là dưa chuột hữu cơ không nhiễm bệnh héo xanh ở cả hai thời vụ do sử dụng phân chuồng ủ và phân bón vi sinh có chứa chủng vi khuẩn kháng bệnh nấm trong đất hiệu quả.

Theo canh tác thông thường, nông dân phun phòng trừ sâu bệnh cho dưa chuột trung bình 5-7 ngày/lần bằng các loại thuốc Rhidomil, Daconil…, trong khi dưa chuột hữu cơ chỉ sử dụng sun phát đồng, TP-zep để phòng trừ, 15-20 ngày/lần. Tuy nhiên, năng suất dưa chuột hữu cơ thấp hơn dưa trồng theo phương pháp thông thường từ 1,3 - 4 tấn/ha.

SX theo phương pháp hữu cơ chi phí cao hơn do sử dụng các loại phân bón có giá cao hơn. Bù lại, rau hữu cơ bán được giá hơn. Anh Nguyễn Văn Minh (xã An Thọ, huyện An Lão), một hộ tham gia mô hình cho biết, anh bán dưa chuột thường với giá 6.000 đồng/kg và dưa chuột hữu cơ giá 10.000 đồng/kg và được người tiêu dùng chấp nhận.

Anh Minh tính toán, chi phí bỏ ra trong canh tác hữu cơ cao hơn do phải thực hiện các hoạt động mang tính chất thủ công, rồi chi phí cho việc thu gom, ủ, bảo quản phân bón… Tuy nhiên, phần chi phí này trong tổng thể lãi thuần là rất nhỏ.

Chủ trương dần khắc phục những khó khăn trên, bà Trần Thị Nghĩa, Trưởng phòng Trồng trọt (Sở NN-PTNT Hải Phòng) cho rằng, với lợi ích nhiều mặt về sức khỏe, môi trường, hiệu quả kinh tế… của rau hữu cơ, Hải Phòng có thể nhân rộng mô hình SX hữu cơ trên các vùng chuyên canh rau và các vùng trong quy hoạch SX rau an toàn của thành phố.

Tại các siêu thị trên địa bàn thành phố Hải Phòng như Big C, Coop mart, Minh Khai…, giá bán rau hữu cơ cao hơn rau thông thường từ 30 - 50%. Sản phẩm hữu cơ của mô hình cũng được các doanh nghiệp, trường học… đặt hàng tiêu thụ hết.

Theo bà Trịnh Thị Kim Anh, Phó GĐ Trung tâm KN-KN Hải Phòng, năng suất sản phẩm hữu cơ trong mô hình này chưa cao hơn canh tác truyền thống. Mẫu mã sản phẩm xấu hơn (màu lá rau cải, vỏ dưa chuột vàng hơn so với rau, dưa bón phân hóa học).

Đặc biệt khâu sơ chế chủ yếu làm thủ công, chưa có nhà sơ chế, nhà kho để lưu giữ sản phẩm đảm bảo, chưa có nhà lạnh, kho lạnh bảo quản sản phẩm đạt yêu cầu. Sản phẩm thu hoạch đến đâu, xuất bán ngay trong ngày.

Bà Trịnh Thị Kim Anh nhận định, thị trường tiêu thụ sản phẩm hữu cơ chưa được Hải Phòng chú trọng, đặc biệt là khâu tiếp thị, quảng bá sản phẩm, xúc tiến thương mại, giới thiệu sản phẩm đến người tiêu dùng.

Theo bà, nguyên nhân thì có nhiều, trong đó phải kể đến việc hiện nay, người nông dân chưa mặn mà với việc sử dụng phân hữu cơ, phân vi sinh trong canh tác cũng như những biện pháp sinh học bảo vệ mùa màng và dùng thảo dược phòng trừ sâu bệnh. Do trình độ còn hạn chế, quen với tập quán canh tác truyền thống, họ cũng chưa nhận thức được đầy đủ ý nghĩa của việc giữ môi trường trong lành và bảo vệ sức khỏe.

Mặt khác, trên thị trường, nông dân dễ dàng tìm mua các chế phẩm hóa học. Còn các biện pháp hữu cơ truyền thống thường mang lại hiệu quả chậm hơn so với việc dùng chế phẩm hóa học, nhiều khi lại phải bỏ ra chi phí và công chăm sóc nhiều hơn so với canh tác thông thường.

Hân Minh/ nongnghiep.vn



Trồng rau thủy canh

So với trồng rau trên đất, trồng rau thủy canh hồi lưu có những ưu điểm vượt trội, thời gian chăm sóc ít, không tốn quá nhiều diện tích, lại cho sản phẩm rau sạch...


Anh Hội trong vườn rau sạch của mình

Dù đang quản lý một trang trại trồng rau tại New Zealand với mức lương khá hậu hĩnh và cơ hội định cư tại nước này nhưng anh Hoàng Phú Hội (ngụ xã Bình Sơn, huyện Bù Gia Mập, Bình Phước) vẫn chấp nhận về nước để trồng rau.

Bỏ "Tây" về trồng rau

Tiếp chúng tôi với nụ cười hiền và vẻ tự tin của một người làm kinh tế hơn là một nông dân chân lấm tay bùn, anh Hội nói: “So với trồng rau trên đất, trồng rau thủy canh hồi lưu có những ưu điểm vượt trội, thời gian chăm sóc ít, không tốn quá nhiều diện tích, lại cho sản phẩm rau sạch”.

Nhìn anh Hội tự tin và tràn đầy phấn chấn, ít ai nghĩ rằng ông chủ trang trại rau sạch này lại từng có những ý tưởng và quyết định “không giống ai”. Anh Hội tâm sự, năm 1993, anh rời quê hương Quảng Trị vào TP Đà Lạt (Lâm Đồng) lập nghiệp với nghề lắp ráp nhà kính cho các vườn rau. Trong thời gian ấy, anh có cơ may lọt vào mắt xanh của một khách du lịch người Anh.

Thấy anh cần cù, siêng năng lại thật thà, ông khách đề nghị anh Hội làm việc cho mình. Ông khách có một trang trại trồng rau sạch ở Malaysia và tỏ ý muốn anh Hội qua đó quản lý. Vậy mà đề nghị này lại bị anh Hội khước từ và bỏ về quê làm thầu xây dựng.

Công việc thầu xây dựng chưa làm được bao lâu thì anh bị tai nạn phải nghỉ hẳn. Năm 1995, anh quyết định gọi điện lại cho ông khách người Anh và chấp nhận công việc trước đây đã từng được đề nghị. Mãi đến năm 2003, anh bắt đầu chính thức công việc tại Malaysia với vai trò tổ trưởng tổ quản lý xây dựng cho trang trại rau sạch thuộc Tập đoàn Genting Garden.

Làm ở Malaysia đến năm 2008 thì anh được chuyển qua New Zealand để quản lý một trang trại rau sạch khác. Hơn 4 năm làm việc trong một môi trường nông nghiệp hiện đại, anh Hội cũng có ý định lâu dài sẽ định cư hẳn bên New Zealand. Vậy mà khi mọi thủ tục giấy tờ gần xong, anh lại có ý định về Việt Nam chỉ để… trồng rau.

“Ông chủ nước ngoài của tôi bất ngờ với quyết định này. Ông cố thuyết phục tôi ở lại nhưng tôi muốn tìm một lối đi riêng cho mình. Tôi muốn tạo ra một thương hiệu rau sạch riêng ở Việt Nam nên quyết định về nước”, anh Hội nói.

Năm 2013, sau hơn 10 năm làm việc ở nước ngoài, anh Hội về nước mang theo giấc mơ làm giàu từ rau sạch bằng phương pháp thuỷ canh. Sau thời gian dài ở nước ngoài, với kinh nghiệm tích luỹ được, anh bắt đầu thực hiện ước muốn của mình. Anh từ tốn nói: “Tôi không chọn Đà Lạt vì ở đó nhiều người trồng rau quá. Sẽ khó ai có thể phân biệt đâu là rau sạch và đâu là rau thường”.

Đem giấc mơ làm giàu của mình, anh Hội quyết định “gửi gắm” về Bình Phước. Với diện tích ban đầu là 4.000 m2, anh Hội tự tay mình cuốc đất, thử nghiệm mô hình trồng rau thuỷ canh hồi lưu. Đến nay vườn rau của anh được Chi cục Trồng trọt & BVTV tỉnh cấp giấy chứng nhận SX rau an toàn.

Công nghệ cao

Phương pháp trồng rau thuỷ canh hồi lưu được thiết kế các ống nhựa (đục lỗ) nối thành một hệ thống giàn, chia nhiều tầng, rất linh động có thể thay đổi phù hợp với không gian khác nhau. Ở mỗi tầng, anh Hội đặt hệ thống tôn trên các giá đỡ cao hơn so với mặt đất từ 1 - 1,5m để thay thế luống đất trồng.


Rau được công nhân thu hoạch chuẩn bị đem xuất bán

Các loại rau ăn lá cao cấp được anh Hội nhập hạt giống từ nước ngoài. Thay cho gieo trồng trên mặt đất, hạt được ươm bằng xơ dừa trộn hợp chất dinh dưỡng trong những vỉ xốp. Những ống nước chứa chất dịch thuỷ canh được dẫn bên dưới tới từng luống rau.

Đây là loại dung dịch đặc biệt, bao gồm các nguyên tố đa lượng (N, P, K, Ca, Mg) và vi lượng (Fe, Zn, Cu, B, Mn, Mo) với thành phần phù hợp với các quy trình hiện nay trên thế giới, trong đó hoàn toàn không có chất kích thích sinh trưởng hay thuốc trừ sâu bệnh.

Năm 2013, những bó rau xanh tươi, đảm bảo sạch, không thuốc trừ sâu, không phân bón hóa học, tuân thủ điều kiện môi trường SX nghiêm ngặt mang thương hiệu "Rau sạch Nguyên Khang Garden" của anh Hội lần đầu tiên được chuyển ra chợ Phước Bình (TX Phước Long, Bình Phước) và các chợ đầu mối ở TP.HCM.

Dung dịch dinh dưỡng sẽ chảy đến từng cây trong hệ thống trước khi hồi lưu về thùng chứa. Hệ thống đóng mở tự động được nối giữa máy bơm và hệ thống dẫn nước, có tác dụng điều chỉnh thời gian và số lần bơm nước trong ngày.

Với hệ thống thủy canh hồi lưu, tuy chi phí ban đầu hơi cao, khoảng 250 triệu đồng đầu tư cho 1.000 m2 nhưng sử dụng được lâu dài. Với hệ thống này người trồng rau không mất nhiều thời gian chăm sóc.

Đầu tiên hạt giống được ươm trong những vỉ xốp khoảng 25 ngày thì đưa ra cấy trên luống. Bộ rễ phát triển dính chặt vào giá đỡ xơ dừa, cứ vậy mà hút dinh dưỡng trực tiếp từ nước đã pha chất dinh dưỡng theo đúng tiêu chuẩn quy định.

Phương pháp thủy canh giúp cây phát triển tương đối tốt, độ đồng đều cao, tỷ lệ cây sống đạt trên 90%. Đồng thời, cây phát triển nhanh hơn so với trồng ngoài đất, thời gian thu hoạch nhanh (giảm 10 - 15 ngày so với trồng bình thường).

Sau 23 ngày cấy luống là có thể thu hoạch rau sạch. Đặc biệt, trồng trong nhà kính, thêm hệ thống lưới phủ bên trên nên không bị các loại côn trùng gây hại.

Anh Hội cho biết, trồng rau thủy canh cho năng suất cao, hầu như không có sâu bệnh. Cây sạch tuyệt đối vì không dính đất cát, khi thu hoạch chỉ việc nhấc cây lên, cắt gốc và đóng bao bì là có thể xuất hàng. Về hiệu quả kinh tế, rau ăn lá canh tác theo phương pháp thủy canh hồi lưu đạt năng suất bình quân khá cao.

Trên diện tích 6.000 m2, trung bình mỗi ngày vườn rau anh Hội cung cấp cho thị trường hơn 4 tạ, thu từ 6 - 7 triệu đồng. Đồng thời, phần rễ và lá cắt bỏ sẽ ủ thành phân hữu cơ bón cho nhiều loại cây trồng.

Làm nông nghiệp hữu cơ là công việc gian nan và phụ thuộc nhiều vào các yếu tố tự nhiên như thời tiết, sâu bệnh, dịch hại… Thời gian đầu kinh doanh, anh hầu như không có lợi nhuận, doanh thu không đủ bù vào chi phí đã bỏ ra. Nhưng tâm huyết với nông nghiệp hữu cơ, anh vẫn kiên trì gắn bó với ước mơ và lựa chọn của mình.

Theo nongnghiep.vn



Sử dụng thuốc theo phương pháp '4 đúng': Giảm chi phí, tăng năng suất

Phòng trừ sâu bệnh, giảm chi phí sản xuất, tăng lợi nhuận, ổn định năng suất lúa - đó là ưu điểm của mô hình quản lý dịch hại sử dụng thuốc theo phương pháp “4 đúng” (đúng thuốc; đúng liều lượng, nồng độ; đúng lúc; đúng cách). Mô hình này đang được nhiều nông dân áp dụng.


Nông dân và cán bộ Chi cục Bảo vệ thực vật tỉnh thăm ruộng lúa áp dụng mô hình quản lý dịch hại sử dụng thuốc theo phương pháp “4 đúng” ở xã Hưng Hội (huyện Vĩnh Lợi). Ảnh: H.L

Vụ lúa hè thu hàng năm, nông dân thường canh tác lúa trong điều kiện thời tiết bất lợi. Đầu vụ thường có hạn cục bộ, giữa vụ có hạn bà chằng cuối vụ khi lúa trổ đòng và thu hoạch thì gặp mưa nhiều, diễn biến các loại dịch hại trên đồng ruộng tăng dẫn đến thiệt hại về năng suất. Việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) của nông dân trong thời gian qua chưa đạt hiệu quả, làm chi phí giá thành sản xuất lúa khá cao, năng suất lại không ổn định…

Trước tình hình đó, Chi cục BVTV tỉnh Bạc Liêu đã xây dựng mô hình quản lý dịch hại sử dụng thuốc theo phương pháp “4 đúng” nhằm giúp nông dân sản xuất ổn định, nâng cao năng suất, giảm thiệt hại, tăng chất lượng sản phẩm.

Mô hình này được triển khai ở vùng sản xuất 2 vụ lúa tại ấp Sóc Đồn (xã Hưng Hội, huyện Vĩnh Lợi). Nông dân tham gia mô hình được cán bộ Chi cục BVTV tỉnh hướng dẫn kỹ thuật canh tác như: Sử dụng giống lúa chất lượng cao; cách làm đất, bón phân theo bảng so màu lá lúa đợt phân thứ 2 và thứ 3 trên cơ sở bón đủ lượng phân lân và kali; nhận diện và phát hiện các loại thiên địch thường xuất hiện trong ruộng lúa (nhện, chuồn chuồn, kiến ba khoang, bọ xít nước, các loại ong ký sinh…). Qua đó, hướng dẫn nông dân một số loại thuốc phòng trừ, cũng như cách sử dụng thuốc BVTV theo phương pháp “4 đúng” để đạt hiệu quả cao nhất.

Nhờ áp dụng phương pháp “4 đúng” mà nông dân giảm được chi phí khoảng 2 triệu đồng/ha (chi phí về giống, phân bón, thuốc BVTV, công phun xịt) so với ruộng ngoài mô hình. Theo đó, lợi nhuận của ruộng mô hình cao hơn ruộng đối chứng khoảng 4,4 triệu đồng/ha.

Ông Thạch Văn Tú, nông dân tham gia mô hình quản lý dịch hại sử dụng thuốc theo phương pháp “4 đúng”, chia sẻ: “Mô hình không chỉ tiết kiệm chi phí sản xuất, giảm thiệt hại, mà còn ổn định năng suất, ước tính đạt 7 tấn lúa/ha. Phấn khởi từ kết quả mà mô hình mang lại, tôi sẽ tiếp tục áp dụng phương pháp này cho những vụ lúa sau”.

Đỗ Hoàng/ Báo Bạc Liêu


Bí bầu, rau cải... cũng phải nhập hạt giống

Một công bố mới đây của Cục Trồng trọt thuộc Bộ NN-PTNT cho thấy chỉ riêng tiền nhập hạt giống rau các loại, Việt Nam chi đến nửa tỉ USD mỗi năm để nhập khẩu từ nước ngoài.


90% giống rau quả của Việt Nam là nhập khẩu từ nước ngoài - Ảnh: D.Đ.M

Cụ thể năm 2013, Việt Nam đã chi ra 500 triệu USD để nhập khẩu 8.000 tấn hạt giống các loại nhằm cung ứng cho 700.000 ha sản xuất rau của cả nước.

“Bầu bí, dưa leo, đậu bắp, khổ qua, cà chua... có khó để làm đâu nhưng Việt Nam vẫn phải nhập”, nguyên Viện trưởng Viện Khoa học kỹ thuật nông nghiệp miền Nam, Giáo sư Bùi Chí Bửu nhận xét. Rau là mặt hàng dễ trồng, sức tiêu thụ cao và mang lại lợi nhuận không nhỏ, nhưng theo Thứ trưởng Bộ NN-PTNT Lê Quốc Doanh, có đến 90% giống rau quả hiện đều phải nhập khẩu từ nước ngoài. Không chỉ rau, nhiều giống lúa lai, ngô lai đang được gieo trồng trong nước cũng đều phải nhập khẩu.

"Bầu bí, dưa leo, đậu bắp, khổ qua, cà chua... có khó để làm đâu nhưng Việt Nam vẫn phải nhập." Giáo sư Bùi Chí Bửu

Tổng giám đốc một tập đoàn thương mại Mỹ có trụ sở đặt tại Việt Nam cho biết: Chỉ riêng Tập đoàn Syngenta của Thụy Sĩ, trung bình mỗi năm bán ra thị trường Việt Nam hơn 1 tỉ USD tiền hạt giống các loại. Giáo sư Bùi Chí Bửu ước tính tỷ lệ giống ngô lai Việt Nam nhập là 90% và nhập 70 - 80% giống lúa lai.

Theo Giáo sư Võ Tòng Xuân, nhiều năm qua, ở miền Nam đã nghiên cứu và đã chủ động được giống lúa lai, không còn phụ thuộc vào thị trường nước ngoài nữa, nhưng với miền Bắc, số giống lúa lai nhập còn rất cao. “Theo tôi được biết, 70% giống lúa lai hiện được cung ứng cho thị trường phía bắc phải nhập khẩu hoàn toàn, nhiều nhất là từ Trung Quốc. Các hạt giống rau cải cũng chủ yếu nhập từ Trung Quốc, Thái Lan, Hà Lan, Mỹ...”, Giáo sư Võ Tòng Xuân nói.

Là quốc gia đứng nhất nhì thế giới về xuất khẩu gạo nhưng giống lúa phải nhập với số lượng quá lớn, theo Giáo sư Võ Tòng Xuân, đây là thiệt thòi lớn cho ngành nông nghiệp Việt Nam. Theo thông tin từ Hiệp hội Thương mại giống cây trồng miền Nam, hiện các viện nghiên cứu, doanh nghiệp chỉ làm chủ được khoảng 5 - 10 loại giống như lúa, ngô, cao su, cà phê, tiêu...

Cái gì nghiên cứu xong, giá thành cũng cao

Theo TS Lê Hưng Quốc, Phó chủ tịch Hiệp hội Thương mại giống cây trồng Việt Nam, nguyên Cục trường Cục Trồng trọt, do trình độ nghiên cứu của ta còn thấp, nên việc sở hữu được gien đã là quý đối với khoa học nghiên cứu về giống của Việt Nam chứ chưa nói đến giống. Ông Quốc phân tích, sở dĩ chúng ta phải nhập khẩu nhiều hạt giống do chúng ta chưa có khả năng tạo ra các tổ hợp bố mẹ. Đơn cử việc nhập khẩu giống ngô lai, lúa lai chỉ được sử dụng và phát triển trong vài năm, sau đó sẽ bị thoái hóa và tiếp tục nhập khẩu tiếp, như một vòng luẩn quẩn. Để có thể chủ động một số giống cây trồng, giảm tần suất phụ thuộc quá nhiều vào hạt giống ngoại nhập, toàn ngành nông nghiệp sớm rà soát và thống kê toàn bộ các loại giống cây, phân chia loại nào cần nhập, loại nào có thể đầu tư nghiên cứu chuyên sâu.

Thực tế, ở phía bắc, theo Giáo sư Xuân, Phó giáo sư - TS Nguyễn Thị Trâm được coi là “mẹ đẻ” của nhiều giống lúa mới của Việt Nam. Năm 2008, TS Trâm đã nghiên cứu thành công một giống lúa lai và bản quyền sau đó được chuyển nhượng lại cho một doanh nghiệp ở Nam Định với trị giá 10 tỉ đồng. Nhưng lẽ ra các công ty mua chuyển giao phải tận dụng để đầu tư nghiên cứu chuyên sâu cho ra các giống lai mới mang tính vượt trội, chứ dừng lại ở mức mua bán một loại giống, một thời gian ngắn sau cũng sớm bị cũ đi.

Dù vậy Giáo sư Võ Tòng Xuân cũng thừa nhận: “Kẹt một cái là cái gì chúng ta làm cũng có giá thành cao hơn người ta. Do nghiên cứu ở Việt Nam làm trong môi trường quá sơ sài”. Giáo sư Xuân nhận xét thêm: “Chi phí nghiên cứu lúc này quá cao, nên chúng ta chọn giải pháp nhập... Chỉ không bình thường khi chúng ta bỏ nhiều tiền của, dùng ngân sách không giới hạn để chi đầu tư và làm theo kiểu phong trào để báo cáo thành tích để rồi những nghiên cứu đó không áp dụng thực tế được, như vậy là lãng phí, không bình thường và chứng tỏ năng lực có vấn đề”.

Nguyên Nga/ Báo Thanh Niên




Thực phẩm hữu cơ kén người mua

Các công ty phát triển thực phẩm hữu cơ cho hay khi quy mô sản xuất tăng lên, giá sản phẩm hữu cơ sẽ giảm, nhưng vẫn cao hơn so với thực phẩm thường.


Khách hàng chọn mua rau tại cửa hàng thực phẩm hữu cơ trên đường Nguyễn Đình Chiểu, quận 3 - Ảnh: Trần Mạnh

Do lo ngại các loại rau củ có tồn dư hóa chất, không ít người tiêu dùng đã chuyển sang chọn mua các loại thực phẩm hữu cơ, được coi như thực phẩm có tiêu chuẩn cao nhất hiện nay khi hoàn toàn không sử dụng hóa chất trong quá trình sản xuất.

Tuy nhiên, giá các loại thực phẩm này cũng ở mức cao nên còn hạn chế người tiêu dùng. Các công ty phát triển thực phẩm hữu cơ cho hay khi quy mô sản xuất tăng lên trong thời gian tới, giá các loại sản phẩm hữu cơ sẽ giảm, nhưng vẫn cao hơn so với thực phẩm thường.

Đắt xắt ra miếng

Sáng thứ bảy (6-9), chị Trần Thu Hương (quận 2, TP.HCM) ghé vào một cửa hàng thực phẩm hữu cơ trên đường Nguyễn Đình Chiểu (quận 3) để mua đồ ăn cho gia đình trong ngày cuối tuần. Tại đây, chị mua 1kg rau muống, nửa ký rau cải, 500g thịt heo ba chỉ, rau thơm và hai hộp sữa nhập khẩu với tổng số tiền trên 300.000 đồng.

Phân biệt thực phẩm hữu cơ với thực phẩm thường
Thực phẩm hữu cơ không sử dụng phân bón hóa học, thuốc trừ sâu, diệt cỏ hóa học và không chứa chất kích thích tăng trưởng, tăng trọng. Trong khi các tiêu chuẩn khác như Global GAP, VietGAP... được sử dụng phân bón hóa học, thuốc trừ sâu, trừ cỏ hóa học... nhưng có kiểm soát.
Ngoài thị trường đang có hai loại thực phẩm hữu cơ là thực phẩm hữu cơ có chứng nhận và thực phẩm canh tác theo phương thức hữu cơ. Trong đó, các thực phẩm hữu cơ có chứng nhận được một tổ chức có thẩm quyền của quốc tế như USDA (Bộ Nông nghiệp Mỹ), Ecocert (EU), IFOAM (Liên đoàn Quốc tế các phong trào canh tác hữu cơ) đánh giá và cấp chứng nhận. Sản phẩm canh tác theo phương thức hữu cơ cũng làm theo các tiêu chuẩn của các tổ chức nói trên nhưng chưa có chứng nhận.

“So với mua ngoài chợ hay trong siêu thị, giá rau mua ở đây có lẽ đắt gấp đôi, nhưng thực phẩm hữu cơ ăn ngon hơn và yên tâm về chất lượng”, chị Hương cho biết.

Chị Hương kể trước đây chị không biết gì về thực phẩm hữu cơ nên không quan tâm. Cách đây hơn nửa năm, nghe một đồng nghiệp trong công ty giới thiệu loại gạo hữu cơ ăn rất ngon nên mua về ăn thử.

“Khi ăn gạo hữu cơ tôi thấy thơm và đượm hơn nhưng chỉ nghĩ là một loại gạo mới. Nhưng sau ba bữa cơm bằng gạo hữu cơ, tôi nấu lại gạo đang dùng dở thì con trai tôi nhất định không ăn mà đòi cơm giống hôm trước thì tôi mới để ý thật sự tới thực phẩm này”, chị Hương nói.

Sau khi tìm hiểu kỹ thông tin trên mạng, chị Hương quyết định chuyển sang mua các loại thực phẩm khác tại cửa hàng hữu cơ như rau, thịt, cá...

Theo chị Hương, ngoài hương vị thơm ngon hơn thực phẩm thường, điều quan trọng nhất là thực phẩm hữu cơ không dùng hóa chất trong canh tác nên không lo lắng về dư lượng hóa chất khi mua rau ngoài chợ.

Chị Nguyễn Ngọc Hà, nhân viên ngân hàng tại quận 3, cho hay nếu dùng đúng rau hữu cơ thì hầu như ai cũng ghiền và không muốn ăn rau thường nữa. “Rau hữu cơ để được lâu hơn rau thường mà hương vị đậm đà giống như rau ở quê từ ngày xưa vậy”, chị Hà cho biết.

Đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của người tiêu dùng đối với các loại thực phẩm hữu cơ do lo ngại về vệ sinh an toàn thực phẩm thời gian qua nhiều cửa hàng chuyên kinh doanh thực phẩm hữu cơ ra đời tại TP. HCM, tập trung ở các khu vực dân cư có thu nhập cao, có thể kể đến các thương hiệu như Organik (quận 2), Organica (quận 3, quận 7) hay Hoa Sữa Foods (quận 1)...

Bên cạnh các loại gạo, rau củ tươi, các cửa hàng chuyên thực phẩm hữu cơ cũng nhập khẩu các loại hàng có chứng nhận hữu cơ quốc tế như ngũ cốc, gia vị, các loại hạt, đồ uống...

Tuy nhiên, khảo sát tại các cửa hàng này cho thấy giá các loại thực phẩm hữu cơ cao hơn nhiều so với thực phẩm thường (rau VietGAP, rau an toàn). Chẳng hạn các loại rau mầm, rau thơm có giá lên đến 150.000 đồng/kg, các loại xà lách, cà rốt, cà chua... dao động ở mức 60.000 - 70.000 đồng/kg, còn rau ăn lá cũng ở mức 50.000 - 60.000 đồng/kg.

Các cửa hàng ở trung tâm (quận 1, 3) hay quận 7 có giá thấp hơn so với cửa hàng chuyên dành cho người nước ngoài ở quận 2 nhưng vẫn cao hơn giá rau trong siêu thị từ 2-4 lần.

“Do giá thành cao nên giá bán rau hữu cơ cũng khá cao, chỉ phù hợp với khách hàng có thu nhập trung bình trở lên. Tuy nhiên, khi khách hàng tăng lên, các công ty đầu tư mở rộng vùng trồng rau thì chi phí sẽ giảm nên giá rau hữucơ cũng giảm theo” - chị Hoài Trang, quản lý cửa hàng thực phẩm hữu cơ Organica (Phú Mỹ Hưng, quận 7), cho biết.

Không dễ trồng rau hữu cơ

Giải thích về việc giá bán sản phẩm rau hữu cơ khá cao hiện nay, nhiều nhà sản xuất cho biết làm ra rau hữu cơ không dễ.

Chị Hoài Trang cho hay trồng rau hữu cơ không được dùng phân bón hóa học, không sử dụng thuốc trừ sâu hóa học và hóa chất kích thích tăng trưởng, bảo quản nên tốn rất nhiều công sức nhưng năng suất thấp hơn so với canh tác thông thường, giá thành cao hơn.

Đặc biệt, để có được mảnh đất đủ điều kiện canh tác hữu cơ tại Việt Nam hiện nay không hề dễ dàng do đất đai thâm canh nhiều năm đã tích tụ phân bón và thuốc trừ sâu hóa học, không thể trồng rau hữu cơ.

Một chuyên gia về đánh giá cấp chứng nhận tiêu chuẩn nông nghiệp toàn cầu cho hay để bắt đầu canh tác hữu cơ, nhà đầu tư phải chứng minh mảnh đất đó có ít nhất ba năm không canh tác hay sử dụng hóa chất trong phân vô cơ hay thuốc trừ sâu, diệt cỏ hóa học. Trong quá trình canh tác, nhà đầu tư chỉ được dùng phân bón hữu cơ tự ủ theo quy trình hoặc phân hữu cơ có chứng nhận quốc tế.

Trước khi cấp chứng nhận, cơ quan chứng nhận sẽ lấy mẫu đất, nước và rau củ đi phân tích trên 200 chỉ tiêu theo tiêu chuẩn của EU, Mỹ nếu đạt mới được chứng nhận.

“Quy trình này lặp lại mỗi năm và tiền lấy chứng nhận không hề nhỏ đối với quy mô sản xuất của Việt Nam” - vị chuyên gia này cho hay.

Ông Võ Minh Khải, tổng giám đốc Công ty CP Viễn Phú (đơn vị sở hữu thương hiệu Hoa Sữa Food), cho hay nhiều người tiêu dùng tại Việt Nam chưa biết đến các tác dụng này của thực phẩm hữu cơ nên doanh thu của cửa hàng nói chung còn khá hạn chế. Hơn nữa, bản thân các nhà sản xuất thực phẩm hữu cơ cũng không sản xuất đủ chủng loại hàng hóa mà khách hàng yêu cầu do vốn và công sức đầu tư lớn.

Một số cửa hàng bán thực phẩm hữu cơ nhưng vẫn đưa các sản phẩm có tiêu chuẩn thấp hơn như Global GAP, VietGAP, thậm chí hàng không rõ nguồn gốc, vào bán cho khách hàng với giá cao.

“Hiện Việt Nam chưa có quy định nào cụ thể về chứng nhận hữu cơ và kiểm soát sản phẩm hữu cơ khi đưa ra thị trường, bất kỳ ai cũng có thể nói mình bán rau hữu cơ cho người tiêu dùng. Nhà nước cần có những biện pháp quản lý để minh bạch thị trường, vừa đảm bảo người tiêu dùng có sản phẩm tốt thật sự so với số tiền họ bỏ ra, đồng thời bảo vệ những người làm ăn đàng hoàng” - ông Khải cho biết.

Trần Mạnh/ Báo Tuổi Trẻ



Trồng rau an toàn theo quy trình BasicGAP: Dễ làm, lợi nhuận cao

Bộ NNPTNT vừa ban hành quy trình sản xuất rau an toàn (RAT) theo tiêu chuẩn BasicGAP nhằm đơn giản hoá các thủ tục so với VietGAP để nông dân dễ thực hiện...


Trồng RAT theo quy trình BasicGAP tại địa bàn Hà Nam.

Giảm 39 tiêu chí

Bà Nguyễn Thị Vang – Phó Giám đốc Sở NNPTNT tỉnh Hà Nam cho biết, Hà Nam hiện có gần 7.000ha rau, năng suất 160 – 170 tạ/ha, nhưng diện tích sản xuất RAT của tỉnh chiếm tỷ lệ rất nhỏ, chưa đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng. Nhờ sự hỗ trợ của Cơ quan Hợp tác quốc tế Nhật Bản (JICA), tỉnh đã triển khai Dự án “Nâng cao năng lực quản lý ngành trồng trọt của Việt Nam nhằm cải thiện sản lượng và chất lượng sản phẩm cây trồng”. Theo đó, 27 hộ dân ở HTX Hạ Vỹ tham gia dự án được tập huấn quy trình sản xuất RAT theo tiêu chuẩn BasicGAP, từ lựa chọn phân bón, thuốc BVTV, cách sử dụng phù hợp cho từng giai đoạn sao cho hiệu quả và đảm bảo an toàn thực phẩm… Tổng cộng quy trình BasicGAP có 26 tiêu chí phải thực hiện, ít hơn rất nhiều so với quy trình VietGAP (65 tiêu chí), tức giảm tới 39 tiêu chí. “Căn cứ vào sổ ghi chép của người dân ở HTX Hạ Vỹ, hạch toán hiệu quả kinh tế trên 1 sào rau cho thấy sản xuất theo tiêu chuẩn BasicGAP có chi phí thấp hơn so với sản xuất rau truyền thống. Cụ thể, phân bón giảm được 6.000 đồng, thuốc BVTV giảm 20.000 đồng, công lao động giảm 80.000 đồng, giá thành sản xuất ra 1 cây bắp cải giảm gần 200 đồng... nên dù giá bán vẫn như rau bình thường, song lợi nhuận cao hơn 116.000 đồng/sào”- bà Vang cho biết.

Ông Trần Xuân Định – Phó Cục trưởng Cục Trồng trọt (Bộ NNPTNT) cho biết, dự án “Nâng cao năng lực quản lý ngành trồng trọt của Việt Nam nhằm cải thiện sản lượng và chất lượng sản phẩm cây trồng” do JICA tài trợ, được Bộ NNPTNT triển khai tại 6 tỉnh phía Bắc, trong đó có 3 tỉnh thí điểm là Hưng Yên, Hà Nam, Quảng Ninh; 3 tỉnh vệ tinh là Thái Bình, Hoà Bình, Hải Phòng. Dự án hướng tới mục tiêu nâng cao nhận thức của cộng đồng nói chung, đặc biệt là nông dân và cán bộ hoạt động trong lĩnh vực an toàn thực phẩm... Việc ứng dụng sản xuất RAT theo quy trình này sẽ được cấp chứng chỉ BasicGAP.

Hiệu quả kinh tế chưa cao

Theo ông Yamamoto Satoshi – cố vấn hình thành dự án cao cấp của JICA, điểm mới của BasicGAP là đơn giản các tiêu chí, đồng thời xác định rõ đâu là phần cán bộ quản lý thực hiện, đâu là phần nông dân phải làm, vì thế bà con cũng dễ hiểu, dễ nhớ, dễ làm hơn. Ngoài ra, nông dân còn được tập huấn lựa chọn và sử dụng phân bón hợp lý; được tập huấn sử dụng thuốc trừ sâu “4 đúng”, góp phần tiết kiệm chi phí và hạ giá thành sản phẩm...

Tuy BasicGAP dễ thực hiện, song các địa phương vẫn gặp khó khăn do thiếu kinh phí cho xúc tiến quảng bá sản phẩm, trong khi sản phẩm sản xuất theo BasicGAP chưa có tem để gắn nhãn mác nên rất khó phân biệt với rau sản xuất theo cách truyền thống. “Lẽ ra, sản phẩm RAT phải có giá bán cao hơn, nhưng tiêu chí nhận diện an toàn còn kém như chưa có mã vạch, tem, không có dấu hiệu nhận diện nên giá bán rau cũng chỉ như rau bình thường” - ông Trần Xuân Định cho hay.

Cũng theo ông Định, hiện nay sản xuất theo VietGAP có tới 65 tiêu chí nên nông dân rất khó thực hiện, khó truy xuất nguồn gốc, vì vậy nhiều địa phương chỉ sản xuất RAT hướng tới VietGAP. Mặt khác, sản phẩm rau sản xuất theo VietGAP chủ yếu tiếp cận thị trường xuất khẩu, bỏ ngỏ thị trường trong nước, do đó JICA mới có cách tiếp cận đơn giản hơn là tiêu chuẩn BasicGAP, với điểm cốt lõi là đảm bảo an toàn thực phẩm.

Ông Okiura Fumihiko - Phó Trưởng đại diện JICA tại Việt Nam khẳng định: “Sản xuất RAT theo tiêu chuẩn BasicGAP chưa đủ tiêu chuẩn để xuất khẩu vào Nhật Bản, vì Nhật Bản còn đòi hỏi cao hơn cả VietGAP. Tuy nhiên, áp dụng BasicGAP là để bước đầu giúp người nông dân dễ dàng tiếp cận, làm quen với sản xuất RAT, dần tiến tới các tiêu chuẩn cao hơn như VietGAP và các GAP quốc tế”.

Thanh Xuân (Dân Việt)



Bắp biến đổi gien: Vẫn còn băn khoăn

Bắp biến đổi gien MON 98034 vừa được cấp giấy chứng nhận an toàn sinh học, trong khi những tranh cãi về lợi ích của loại cây trồng này vẫn chưa kết thúc

Ông Nguyễn Hồng Chính, Giám đốc đối ngoại Công ty TNHH Dekalb Việt Nam - đơn vị duy nhất hiện nay được Bộ Tài nguyên và Môi trường cấp giấy chứng nhận an toàn sinh học cho bắp biến đổi gien MON 98034 kháng sâu bộ cánh vảy - cho biết vẫn cần tiếp tục đánh giá về hiệu quả thực tế của loại giống này trên đồng ruộng Việt Nam.

Chưa xác định giá thành

Theo ông Nguyễn Hồng Chính, do mới được cấp phép và chưa chính thức đưa bắp biến đổi gien ra trồng trên đồng ruộng nên công ty chưa có phương án về giá thành của giống này. Ông Chính cho biết muộn nhất là đến đầu năm 2015, giống bắp được cấp phép mới được công ty trồng thử để cùng nông dân đánh giá hiệu quả, từ đó mới có chiến lược trồng giống nào ở vùng nào, giá thành bao nhiêu thì được chấp nhận.


Sắp tới, giống bắp biến đổi gien sẽ được trồng thử nghiệm. Trong ảnh: Ruộng bắp lai ở huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ An Ảnh: Đỗ Hương

“Loại giống này không mang lại hiệu quả tức thời nhưng sau ít nhất 3-5 năm, khi kỹ thuật canh tác được nâng cao thì hiệu quả sẽ cao hơn. Khi đó, có thể nâng giá giống lên ở mức nông dân có thể chấp nhận được khi so sánh với hiệu quả kinh tế” - ông Chính nhìn nhận.

Trong khi đó, GS Trần Đình Long, Chủ tịch Hội Giống cây trồng Việt Nam, lo ngại sẽ có yếu tố độc quyền trong việc cung cấp giống biến đổi gien cho nông dân bởi bắp biến đổi gien không để giống được. “Nếu họ nâng giá, nông dân không thể mua bởi giá giống bắp bình thường hiện chỉ khoảng 50.000 - 60.000 đồng/kg, trong khi giá giống bắp biến đổi gien có thể lên tới 200.000 đồng/kg. Chưa kể, sự độc quyền còn nằm ở chỗ nông dân phải mua thuốc trừ cỏ và lệ thuộc vào quy trình chăm sóc của các công ty cung cấp giống” - ông Long phân tích.

Thực tế, đã có nhiều bài học từ các quốc gia trên thế giới cho thấy lợi ích của việc đưa giống biến đổi gien vào trồng đại trà lệ thuộc vào những người nắm công nghệ về giống.

Cân nhắc bài toán kinh tế

Thực phẩm biến đổi gien ra đời được kỳ vọng sẽ bù đắp sự thiếu hụt về lương thực, thực phẩm. Đối với Việt Nam, nếu phát triển được thực phẩm biến đổi gien sẽ giảm nhập khẩu bắp, đậu tương, khô dầu đậu tương và bã bắp cho chăn nuôi.

Tuy nhiên, theo GS Trần Đình Long, loại bắp biến đổi gien mới được cấp phép chỉ kháng sâu hay kháng cỏ dại, năng suất không cao, trong khi Việt Nam cần bắp chịu hạn, năng suất cao. “Việt Nam đã có giống bắp năng suất 8-10 tấn/ha. Vậy tại sao có giống tốt mà không phát triển để dùng, lại nhập giống biến đổi gien, trong khi nguy cơ của loại cây trồng này chưa được đánh giá hết?” - GS Trần Đình Long đặt vấn đề.

Bên cạnh đó, với bắp, Việt Nam hiện có khoảng 50% giống tự cung cấp, 50% phải nhập khẩu. Nếu cho phép triển khai cây trồng biến đổi gien thì nước ta sẽ gia tăng sự lệ thuộc vào nước ngoài do phải nhập giống và thuốc bảo vệ thực vật đồng bộ. “Gánh nặng nhập khẩu sẽ không giảm vì giá giống bắp biến đổi gien có thể đắt gấp 4 lần so với giống bình thường” - ông Long lo ngại.

Pháp cấm trồng các loại cây biến đổi gien
Theo GS Trần Đình Long, đất đai nhiều nơi trên thế giới đã có biểu hiện xấu như thay đổi kết cấu, giảm độ phì nhiêu sau khi trồng và sử dụng thuốc trừ cỏ của các giống cây trồng biến đổi gien. Ngoài ra, cũng cần cân nhắc quan tâm vì sao Pháp lại cấm trồng các loại cây biến đổi gien. “Tác động của cây trồng biến đổi gien là lâu dài, hiện nay chưa đánh giá hết được” - ông Long cho biết.

Phương Nhung/ Báo NLĐ